12:20 EST Thứ sáu, 14/12/2018

Thông tin cần thiết

Hình ảnh hoạt động

Sinh hoạt câu lạc bộ Tiếng Anh với cô Irina
Hoạt đông ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa
Sinh hoạt câu lạc bộ Tiếng Anh với cô Irina

Trang nhất » Nghiên cứu khoa học » Các bài báo khoa học

Văn hóa, triết lý và triết học

Thứ hai - 22/10/2018 23:32
Văn hóa, triết lý và triết học PGS.TSKH. Lương Đình Hải Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Bài viết góp phần luận giải mối quan hệ giữa văn hóa, triết lý và triết học. Văn hóa là nguồn nuôi dưỡng các triết lý, các tư tưởng và hệ thống triết học, là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển các hệ thống triết học. Các triết lý, các hệ thống triết học lại là những bộ phận cốt lõi nhất trong nền văn hóa của một dân tộc. Xét trên nhiều khía cạnh, triết lý luôn ở tầm thấp hơn so với các hệ thống triết học, song nó chính là chất liệu của các hệ thống triết học bác học. Theo tác giả, văn hóa, các triết lý và các hệ thống triết học chính là ba tầng bậc khác nhau của văn hóa theo nghĩa rộng.
Văn hóa, triết lý và triết học
PGS.TSKH. Lương Đình Hải
Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
 
Bài viết góp phần luận giải mối quan hệ giữa văn hóa, triết lý và triết học. Văn hóa là nguồn nuôi dưỡng các triết lý, các tư tưởng và hệ thống triết học, là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển các hệ thống triết học. Các triết lý, các hệ thống triết học lại là những bộ phận cốt lõi nhất trong nền văn hóa của một dân tộc. Xét trên nhiều khía cạnh, triết lý luôn ở tầm thấp hơn so với các hệ thống triết học, song nó chính là chất liệu của các hệ thống triết học bác học. Theo tác giả, văn hóa, các triết lý và các hệ thống triết học chính là ba tầng bậc khác nhau của văn hóa theo nghĩa rộng.
 
          Văn hoá theo gốc tiếng La tinh (cultura) có nghĩa là canh tác, nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển, tôn trọng. Ở Việt Nam hiện nay, dù với các sắc thái khác nhau các nghĩa gốc như vậy cũng có mặt ở một mức độ nhất định trong khái niệm văn hoá với nghĩa rộng rãi của nó. Văn hoá là hệ thống các chương trình (programs), phương thức hoạt động sống trên sinh học của con người (gồm cả hành vi, hoạt động và giao tiếp). Hệ thống ấy được hình thành và phát triển qua quá trình lịch sử và giúp cho việc duy trì và cải biến đời sống xã hội trên tất cả mọi mặt của nó. Các chương trình, phương thức hoạt động ấy được hợp thành bởi các tri thức, chuẩn mực, thói quen, lý tưởng, cách hành động, tư tưởng, học thuyết, lòng tin, mục tiêu, định hướng giá trị… Những cái đó lại rất đa dạng, được tích luỹ lâu đời, tạo thành kinh nghiệm xã hội – một yếu tố cấu thành văn hoá. Văn hoá là cái được di truyền xã hội từ thế hệ này đến thế hệ khác.
          Trong quá trình lịch sử khái niệm văn hoá cũng thay đổi và phát triển. Ở giai đoạn đầu tiên văn hoá có nghĩa là canh tác đất đai, sau đó có nghĩa là các quá trình và các kết quả chế tác các vật liệu tự nhiên. Giai đoạn tiếp theo văn hóa lại bao hàm cả nghĩa là quá trình nuôi dưỡng và giáo dục con người. Nhà triết học La mã cổ đại, Xixeron là người đầu tiên sử dụng nghĩa mới này của khái niệm văn hóa. Từ nửa cuối thế kỷ XVIII khái niệm văn hóa được sử dụng rộng rãi trong triết học và các nghiên cứu xã hội khác. Văn hoá được xem như là khía cạnh quan trọng nhất của đời sống xã hội, gắn liền với phương thức hoạt động sống của con người, nhờ đó mà phân biệt được sự tồn tại của con vật với cuộc sống của con người. Từ sau đó bắt đầu xuất hiện các nhánh quan điểm khác nhau về văn hóa. Văn hóa được xem như quá trình phát triển lý trí và các hình thức sống có lý trí của con người, trái ngược với tính chất hoang dại và man rợ ở thời kỳ tiền sử. Văn hóa là đời sống tinh thần của con người được duy trì và phát triển trong tiến trình lịch sử, là sự tiến hóa của ý thức đạo đức, luân lý, tôn giáo, triết học, khoa học, pháp luật và ý thức chính trị, thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại.
          Mặt khác người ta cũng xem văn hoá như là những điểm đặc thù của một xã hội. Văn hoá là hệ thống các giá trị và tư tưởng quy định kiểu tổ chức xã hội ở những thời kỳ lịch sử khác nhau. Các hệ thống đó là khác nhau và tương đối độc lập với nhau, trong chúng bao gồm toàn bộ tài sản văn hoá vật chất, tập quán chủng tộc, các dạng ngôn ngữ và các hệ thống biểu trưng khác.
          Trong lịch sử, ban đầu người ta thường đồng nhất văn hoá với tất cả những gì do con người tạo ra. Sau đó người ta xem văn hoá chỉ là tính tích cực của con người trong hành vi, hoạt động và giao tiếp, nhằm tạo ra một thế giới mới – thế giới nhân tạo khác với giới tự nhiên. Văn hoá như là phương thức thực hiện và điều chỉnhcác hoạt động của con người, là phương diện đặc biệt của đời sống xã hội. Nó tạo ra và và truyền tải từ thế hệ này đến thế hệ khác các chương trình (programs) trên sinh học về hành vi, hoạt động và giao  tiếp của con người. Như vậy, văn hoá không đồng nhất với xã hội mà  chỉ là một phương diện đặc biệt của đời sống xã hội, hiện diện trong tất cả các trạng thái xã hội khác nhau và cũng không có một hiện tượng xã hội nào không chịu ảnh hưởng của văn hoá, hay không mang dấu ấn của văn hoá.
          Văn hoá như một hệ thống mã (code) thông tin, mã hoá các kinh nghiệm xã hội của con người. Kinh nghiệm ấy trong quan hệ với các dạng hành vi, hoạt động, giao tiếp, và do vậy, với toàn bộ cấu trúc và trạng thái xã hội do chúng tạo ra, thể hiện như là những chương trình trên sinh học về hành vi, hoạt động và giao tiếp. Nếu như trong các hệ sinh học bao giờ cũng có những kết cấu thông  tin đặc biệt để quản lý và điều chỉnh hệ thống sinh học ấy (AND, ARN), được gọi là gen, thì trong các hệ thống xã hội gen di truyền ấy là văn hoá. Các dạng hành vi, hoạt động, giao tiếp được điều chỉnh bằng các “mã văn hoá” nhằm sản xuất và phát triển các yếu tố, các tiểu hệ thống xã hội và các quan hệ của chúng, đặc trưng cho từng kiểu tổ chức xã hội cụ thể, (tức là đặc trưng cho giới tự nhiên thứ hai), các cộng đồng và các thiết chế xã hội, các loại nhân cách đặc trưng cho xã hội đó. Điều đó tương tự như mã di truyền sinh học điều khiển trao đổi chất để tạo nên các tế bào và các bộ phận của cơ thể sinh vật.
          Ở con người, ngoài mã di truyền sinh học còn một hệ thống mã di truyền khác. Đó là mã di truyền xã hội, có chức năng chuyển tải từ người này qua người khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác toàn bộ khối các kinh nghiệm xã hội. Để có thể truyền tải, bảo tồn được thì khối các kinh nghiệm đó phải được thể hiện dưới dạng các loại ký hiệu khác nhau như âm thanh, chữ viết, tiếng nói, điệu bộ, hình ảnh…. Hệ thống các ký hiệu như vậy rất đa dạng, phong phú mới có thể ghi nhận được khối các kinh nghiệm xã hội thường xuyên được đổi mới, bổ sung và phát triển. Hệ thống ký hiệu ấy cũng là một trong những yếu tố cấu thành của văn hóa.
          Trong giới tự nhiên thứ hai các sản phẩm do con người tạo nên cũng là những ký hiệu dưới các dạng thức và ý nghĩa khác nhau. Các vật thể văn hóa vật chất đóng vai trò kép trong đời sống con người: một mặt, chúng phục vụ trực tiếp mục tiêu thực tiễn, cụ thể, cho các nhu cầu hàng ngày của con người, như ăn, mặc, ở, đi lại… Mặt khác, chúng lại là phương tiện bảo tồn, chuyển giao các chương trình (programs), ý nghĩa, nội dung, phương thức điều chỉnh hoạt động, hành vi, giao tiếp. Chỉ trong phương diện thứ hai này giới tụ nhiên thứ hai mới mang ý nghĩa và nội dung văn hóa.
          Sự phát triển của văn hóa tạo ra các ý nghĩa, nội dung, các phương thức điều chỉnh các họat động của con người, tạo ra những hệ thống mã di truyền mới, để bảo tồn và di truyền các ý nghĩa, nội dung và phương thức điều chỉnh đó. Sự phát triển xã hội gắn liền với việc hình thành các dạng hoạt động mới, do đó làm xuất hiện các chương trình, phương thức mới cùng với những mã di truyền văn hóa mới. Trong quá trình phát triển cũng diễn ra sự phân rã, kết hợp, loại trừ, bổ sung lẫn nhau giữa các chương trình, phương thức mới và cũ, hiện đại và truyền thống.
          Sự chia tách các lĩnh vực hoạt động tinh thần dẫn đến phát sinh những nôị dung, ý nghĩa, phương thức điều chỉnh mới với tính cách là những cấu trúc gián tiếp và phái sinh trong quan hệ với các dạng cụ thể của thực tiễn. Theo sự vận động của lịch sử, các lĩnh vực độc lập của văn hóa tinh thần đã dần dần xuất hiện: tôn giáo, nghệ thuật, đạo đức, khoa học, ý thức chính trị và pháp quyền, … chúng tác động lẫn nhau và tham gia điều chính các hoạt động, các hành vi và giao tiếp trong đời sống hàng ngày của con người.
          Trong một giai đoạn phát triển xác định của xã hội các mã di truyền xã hội được hình thành, trực tiếp hoặc gián tiếp, điều chỉnh các hoạt động của con người, dần dần làm nên trật tự thứ bậc của chúng. Có thể phân chúng thành ba bậc: 1- Những tàn dư văn hóa quá khứ; 2- văn hóa đương đại (các chương trình, nội dung, phương thức điều chỉnh hoạt động đang tạo nên định dạng xác định của văn hóa hiện tồn; 3- Những yếu tố thuộc về nền văn hóa tương lai (những nguyên tắc đạo đức mới, những tư tưởng về xã hội tương lai,…). Ba trình độ thứ bậc, ba loại văn hóa đó có thể được cụ thể hóa, biến dạng và chuyển hóa để điều chỉnh hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người và có thể thống nhất để tạo thành một hệ thống chỉnh thể.
          Các thành tố văn hoá trong hệ thống chỉnh thể bao hàm và gắn kết lẫn nhau tạo nên những cái chung (universals), những triết lý mang tính thế giới quan, trong đó tích trữ những kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ được. Nhưng chúng lại không phải là những phạm trù triết học mà là những phản tư (reflec) hiện thực, thể hiện thành các cái chung (universals) văn hoá, những quy tắc, chuẩn mực, những triết lý. Những cái chung mang tính thế giới quan, các triết lý có thể hoạt động và phát triển cả ở bên ngoài sự phản tư triết học. Chúng vốn có trong các nền văn hoá mà ở đó chưa có những hình thức phát triển của tri thức triết học.
          Có thể phân chia các cái chung của văn hoá thành hai khối lớn có quan hệ lẫn nhau. Khối thứ nhất ghi nhận những đặc điểm nền tảng, chung nhất  của các khách thể, gồm cả hoạt động của con người. Chúng là cấu trúc nền tảng của ý thức con người và mang tính chất phổ quát: không gian, thời gian, vận động, qâun hệ, chất lượng, nhân quả,… Khối thứ hai của những cái chung văn hoá là những loại phạm trù đặc biệt, xác định con người như là chủ thể của hoạt động, giao tiếp, quan hệ, như con người, xã hội, ý thức, thiện, ác, niềm tin, hy vong, … Khối những cái chung này ghi nhận kinh nghiệm đưa cá nhân vào hệ thống các quan hệ và giao tiếp xã hội.
          Các cái chung (universals) văn hoá, các triết lý xuất hiện, phát triển và hoạt động như là một hệ thống chỉnh thể, mỗi yếu tố hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, đều có liên hệ với nhau. Trong hệ thống cái chung văn hoá đã có thể hiện những quan niệm chung nhất về các yếu tố cơ bản và các mặt của hoạt động sống của con người: vị trí con người, các quan hệ xã hội, đời sống tinh thần và các giá trị của cuộc sống con người. Những quan niệm ấy ẩn chứa bên trong các nội dung, chương trình, phương thức hoạt động chung của xã hội và được cụ thể hoá bằng những quan niệm cụ thể hơn, đặc trưng cho một dạng tổ chức xã hội xác định.
          Trong các cái chung (universal) mang tính thế giới quan của văn hoá có thể có những phương án sống và hoạt động riêng, đặc trưng cho những kiểu văn hoá khác nhau và ăn sâu trong ý thức con người. Đồng thời chúng cũng gắn liền với những nội dung, phương thức, chương trình hành động của quá khứ lẫn tương lai, thể hiện những đặc điểm của phương thức giao tiếp và hoạt động của con người, của việc bảo tồn, chuyển tải kinh nghiệm xã hội và thang bậc giá trị. Chúng mang đặc trưng dân tộc và chủng tộc trong mỗi nền văn hoá, xác định đặc điểm của các nền văn hoá khác nhau.
          Các cái chung của văn hoá thực hiện đồng thời ít nhất ba chức năng trong hoạt động sống của con người: 1- Phân loại và sắp xếp kinh nghiệm xã hội đã và đang có theo kiểu “đóng gói” khái niệm để truyền cho các thế hệ, các cá nhân, các thời đại khác nhau; 2- Các cái chung văn hoá là cấu trúc cơ sở của ý thức con người ở một thời đại lịch sử cụ thể; 3- Các cái chung có liên hệ lẫn nhau tạo thành bức tranh khái quát về thế giới, tạo thành cái gọi là thế giới quan của thời đại, thể hiện quan niệm chung về con người và thế giới, thang bậc giá trị. Do đó, bức tranh ấy sẽ ấn định không chỉ tư duy mà cả xúc cảm của con người.
          Ý nghĩa của những cái chung (universals) văn hoá sẽ được các cá nhân nhận thức và chúng sẽ xác định tầm quan niệm về thế giới, hành động và cách xử thế của các cá nhân. Ý nghĩa của những cái chung văn hoá ở tầm nhóm và cá nhân sẽ được hiệu chỉnh cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của họ.
          Nhiều học thuyết triết học trong lịch sử đã nhận thấy địa vị nền tảng của những cái chung văn hoá trong tồn tại người ở thời đại đã sản sinh ra học thuyết triết học đó. Ý nghĩa của những cái chung văn hoá nằm trong tất cả các lĩnh vực: trong ngôn ngữ thông thường, trong các hiện tượng của ý thức đạo đức, trong triết học, tôn giáo, nghệ thuật, kỹ thuật, pháp luật,v.v…
          Việc cải tạo xã hội luôn đòi hỏi phải có sự thay đổi những gía trị và ý nghĩa sâu xa của cuộc sống được ghi nhận trong các cái chung (universals) của văn hoá. Cải biến xã hội luôn gắn liền với cách mạng trong trí não, với việc phê phán những định hướng thế giới quan đang thống trị trước đó và vào thời điểm đó, với việc đề xuất những giá trị mới. Sẽ không có bất cứ thay đổi lớn nào trong xã hội nếu không có sự thay đổi trong văn hoá. Là chủ thể văn hoá, nhưng con người luôn là sự sáng tạo của văn hoá. Nó có nhân cách nhờ tiếp nhận các kinh nghiệm xã hội được chuyển tải trong văn hoá thông qua giáo dục, nuôi dưỡng, thông qua xã hội hoá, thông qua “di truyền xã hội”.
          Hoạt động của chương trình (program) sinh học (bản năng ăn uống, tự bảo vệ, tính dục, v.v…) ở con người trải qua quá trình xã hội hoá, giáo dục, được thực hiện dưới hình thức văn hoá xác định. Rất nhiều những biểu hiện có thể có của các chương trình sinh học bị cấm do văn hoá. Văn hoá “cấm kỵ” nhiều tham vọng, ước muốn thể hiện tự do các bản năng động vật thông qua việc giáo dục, rèn luyện con người ngay từ thời thơ ấu, văn hoá bao hàm cả cái vô thức - xã hội, được di truyền giữa các thế hệ, giữa người này với người kia.
          Mọi thay đổi trong văn hoá đều thông qua tính tích cực sáng tạo của cá nhân. Con người là sự sáng tạo của văn hoá, nhưng lại là chủ nhân sáng tạo ra nó. Mặc dù trong các nền văn hoá khác nhau khả năng và điều kiện cho sáng tạo là khác nhau. Sáng tạo trong các xã hội truyền thống rõ ràng là thua kém trong các xã hội công nghệ. Nếu trong xã hội truyền thống truyền thống được xếp lên trên thì trong xã hội công nghệ sáng tạo, đổi mới được xếp lên trên. Cũng như biến dị và di truyền đều quan trọng đối với sinh vật thì truyền thống và sáng tạo cũng quan trọng như nhau đối với xã hội và văn hoá. Văn hoá không chỉ sáng tạo, biến đổi cuộc sống mà còn bảo tồn những nền móng vững chắc của đời sống xã hội.
          Trong xã hội truyền thống các nền văn hoá giao lưu với nhau, vay mượn các thành quả của nhau, nhưng ít khi động chạm đến tầng sâu nền tảng của chúng.  Trong xã hội công nghệ sự tác động lẫn nhau giữa các nền văn hoá mạnh mẽ hơn. Các quá trình hiện đại hoá gắn liền với vay mượn, du nhập công nghệ mới, khoa học, hệ thống giáo dục đã làm thay đổi các giá trị cơ bản của văn hoá truyền thống. Hiện nay, với nhịp độ phát triển nhanh của công nghệ thì những biến đổi văn hoá càng lớn, vị trí, vai trò và quan hệ lẫn nhau giữa văn hoá bác học và văn hoá quần chúng cũng thay đổi mạnh mẽ. Đối thoại giữa các nền văn hoá là rất quan trọng. Tính chất đa dạng và sự tương tác lẫn nhau giữa các nền văn hoá là điều kiện cho sự phát triển của chúng.
          Tuy nhiên, dù tác động của công nghệ mạnh đến mức nào thì mỗi dân tộc vẫn có nền văn hoá của riêng mình. Trong văn hoá dân tộc có những định đề, nguyên tắc, cách hành xử được thể hiện theo cách riêng. Người phương Đông, người Việt Nam và người châu Âu đều sử dụng mâm cơm khi ăn, nhưng mâm cơm của người phương Đông khác của người châu Âu: Người châu Âu ăn theo suất riêng, còn người phương Đông cả nhà dung chung một mâm và dùng chung các món ăn, người Việt Nam dùng đũa khi ăn con người châu Âu thì dùng thìa, dĩa,…
          Dân tộc nào cũng có nền văn hoá của mình, nhưng không phải dân tộc nào cũng có các hệ thống triết học bác học, hàn lâm riêng của mình. Dân tộc nào cũng có những tư tưởng triết học của mình và đặc biệt có cả hệ thống những cái chung, những triết lý phong phú, đa dạng. Các hệ thống triết học bác học, hàn lâm được các nhà tư tưởng tổng kết từ sự phát triển của khoa học, thực tiễn và lịch sử xã hội, hay nói cách khác, là sự phát triển của văn hoá dân tộc, trong đó có cả các hệ thống triết học bác học đã được xây dựng trước đó.
Văn hoá là nguồn nuôi dưỡng các hệ thống triết học, các tư tưởng triết học, là điều kiện và chất liệu, nguồn gốc và điều kiện cho sự phát triển của triết học. Một dân tộc có thể không có hệ thống triết học riêng nhưng lại không thể không có văn hoá riêng của mình. Không có văn hoá riêng của mình, dân tộc sẽ không thể tồn tại được. Văn hoá là điều kiện cần thiết, tất yếu của sự tồn tại của mỗi dân tộc cả về phương diện đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Theo nghĩa đó, văn hoá cũng là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển của các hệ thống triết học.
Từ thực tế lịch sử phát triển của các dân tộc trên thế giới và trong khu vực Đông Á có thể thấy trong mỗi một nền văn hoá dân tộc bao giờ cũng bao hàm những cái chung, những triết lý về con người, cuộc sống, xã hội và thế giới nói chung. Nhưng đó chưa phải là hệ thống triết học. Những cái chung, những triết lý đó có thể rời rạc, tản mạn, không liên kết chặt chẽ được với nhau mặc dù có thể đó là những cáichung, những triết lý sâu sắc. Chúng thể hiện sự suy tư, đúc kết kinh nghiệm, tri thức của con người về những mặt, những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ trong đời sống. Chúng có thể được thể hiện bằng ca dao, tục ngữ, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, cách hành xử trong cuộc đời. Đối với người Việt Nam: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” từ lâu đã là một triết lý sống một cách hành xử trong quan hệ giữa người với người. Nhưng đó chưa phải là triết học, càng chưa phải là một hệ thống triết học.
Khác với các hệ thống triết học bác học do các nhà tư tưởng, các nhà khoa học hoàn toàn xác định tạo ra các triết lý, các cái chung thường là vô danh, xuất hiện và tồn tại trong các hình thức khác nhau: ca dao, tục ngữ, trong cuộc sống thường ngày, trong kiến trúc, v.v… Không thể xác định được chính xác thời gian ra đời của một cái chung, một triết lý cụ thể nào đó. Nhưng có thể xác định được tác giả và thời gian xuất hiện của một hệ thống triết học cụ thể. Các triết lý, các cái chung phong phú và đa dạng đó tồn tại lâu đời trong cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc, nhưng chúng chỉ có thể tồn tại bên cạnh nhau, phản ánh các mặt, các quá trình cụ thể của đời sống xã hội mà không thể tạo thành một hệ thống triết học có kết cấu bên trong, một hệ thống lí luận. Mức độ khái quát của chúng không thể cao và có tính hệ thống chặt chẽ như các hệ thống triết học bác học.
Các triết lý, các cái chung đó nằm ngay trong văn hoá dân tộc, chúng không tách rời mà gắn chặt với văn hoá theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp, trong cả văn hoá vật chất lẫn văn hoá tinh thần. Chúng hoà lẫn vào trong văn hoá dân tộc và là những hạt cát nhỏ trong bãi cát văn hoá dân tộc, là một yếu tố cấu thành căn bản có ý nghĩa quyết định đến chiều sâu của văn hoá dân tộc. Ở một góc độ nhất định, có thể nói, các triết lý, các cái chung ấy chính là lớp trầm tích cô đọng của văn hoá dân tộc. Nó không phải là toàn bộ nền văn hoá, nhưng nó là yếu tố cốt lõi tạo nên chất lượng của nền văn hoá, làm cho văn hoá phong phú và sâu sắc hơn. Nó giống như những hạt thịt đã xay nhỏ trong một nồi xúp hay nồi cháo chúng ta vẫn ăn hàng ngày.
Mặt khác, chính văn hoá dân tộc lại cũng là nguồn sữa bất tận nuôi dưỡng và phát triển các triết lý, các cái chung. Quy mô, cường độ và năng lực lao động của một dân tộc càng lớn, nền văn hoá càng phát triển thì càng làm cho các triết lý, các cái chung của họ phong phú, sâu sắc, đa dạng toàn diện, thể hiện đời sống con người và xã hội đầy đủ hơn. Sự phát triển của văn hoá dân tộc cung cấp chất liệu cho sự xuất hiện, tồn tại và phát triển các triết lý, các cái chung. Theo chiều ngược lạ, các triết lý, các cái chung lại có tác dụng định hướng và thúc đẩy các hoạt động và giao tiếp của con người, các hành vi của họ theo hướng có văn hoá, sáng tạo, mở rộng và phát triển văn hoá. Các triết lý là những khuôn mẫu, định hướng cho sự phát triển tiếp theo của văn hoá. Điều đó cũng có nghĩa rằng nó là cơ sở trực tiếp cho sự phát triển tiếp theo của văn hoá.
Chính vì vậy là một bộ phận cấu thành của văn hoá nhưng nó là bộ phận cốt lõi và quan trọng. Hơn nữa triết lý trong mỗi nền văn hoá dân tộc thường là gần gũi, gắn bó trực tiếp với đời sống thường ngày của con người, nó được truyền tải thông qua giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, tiếp thu qua kinh nghiệm, học hỏi ở bạn bè… Các triết lý, các cai chung lại ở tầm kinh nghiệm hoặc kinh nghiệm chứ chưa phải nằm ở trình độ lý luận. Do vậy chúng dễ hiểu, dễ vận dụng, sát hợp với tâm thức, bản sắc, tính cách của cộng đồng nên chúng dễ dàng đi sâu vào con người, dễ tiếp thu và định hướng hoạt động, giao tiếp của con người nhẹ nhàng hơn so với các nguyên lý lý luận trong các hệ thống triết học.
Thực tiễn cuộc sống của các dân tộc cho thấy các nền văn hoá dân tộc không thể thiếu vắng các triết lý, các cái chung bởi đó chính là những định hướng hoạt động, giao tiếp và phát triển của họ. Một nền văn hoá càng phát triển thì số lượng và chiều sâu của các triết lý càng lớn. Càng đi xa về hiện đại số lượng và chiều sâu và tính đa dạng đa diện của toàn bộ các triết lý càng lớn. Càng ngược về quá khứ xa xưa số lượng và chiều sâu, tính đa diện và đa dạng của tổng thể các triết lý càng bé lại. Điều quan trọng là khi hệ thống các triết lý tăng thêm cả về số lượng lẫn chiều sâu thì những yếu tố khác trong văn hoá dân tộc cũng phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu theo hướng phát triển của hệ thống các triết lý, bởi các triết lý phát triển và mở rộng đến đâu thì chúng mở đường, tạo hướng, dựng khuôn mẫu cho các hành vi, giao tiếp và hoạt động để tạo ra nhưng giá trị văn hoá mới, môi trường văn hoá mới, sản phẩm văn hoá mới.
Một chiều cạnh khác trong mối quan hệ văn hoá và triết học, liên quan đến các triết lý trong nền văn hoá dân tộc là vai trò của các triết lý đối với các hệ thống triết học bác học. Chỉ một số dân tộc có các hệ thống triết học bác học. Các hệ thống triết học luôn ở tầm lý luận cao so với các triết lý trong nền văn hoá dân tộc. Các hệ thống triết học cũng là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hoá dân tộc. Có thể nói các học thuyết triết học bác học là sự kết tinh cao độ ở tầm cao lý luận, thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của dân tộc ở thời đại đó được khúc xạ qua lăng kính của các nhà triết học cụ thể. Các triết lý trong nền văn hoá dân tộc chính là những chất liệu trực tiếp để tạo nên kết cấu cho tất cả các yếu tố của các hệ thống triết học bác học. Một mặt, các triết lý có thể tham gia nhiều ít bằng nội dung kiến thức, bằng cách tư duy, suy luận… vào trong hệ thống triết học dưới dạng nguyên mẫu. Mặt khác, nhiều triết lý tham gia vào học thuyết triết học bác học một cách gián tiếp thông qua việc tác động vào tư duy, ý thức của nhà triết học trong quá trình học tập, qua kinh nghiệm cuộc sống, qua tiếp thu kinh nghiệm của người khác, để tham gia vào hệ thống triết học bác học ngay từ khi hệ thống đó bắt đầu nảy sinh, hình thành, phát triển và được diễn đạt thành lý luận có hệ thống.
Bản thân các hệ thống triết học bác học cũng là một yếu tố cấu thành cơ bản và quan trọng của văn hoá dân tộc, nếu nền văn hoá dân tộc đó có các hệ thống triết học bác học. Khó có thể nói được rằng có một nền văn hoá phát triển cao mới có thể có được các hệ thống triết học bác học. Nhưng rõ ràng là trong lịch sử phát triển của các dân tộc trên thế giới, từ thời cổ đại đến nay, các hệ thống triết học bác học đều được ra đời trong các nền văn hoá phát triển sâu rộng và rực rỡ: Hy Lạp, La Mã cổ đại, Ấn Độ, Trung Hoa, Đức, Pháp, Anh…
Văn hoá dân tộc là môi trường sống của các hệ thống triết học bác học, là nơi cung cấp thức ăn, nước uống, dưỡng khí và ánh sáng mặt trời cho các hệ thống triết học bác học đó. Giống như những cây ăn quả trong vườn được trồng trên những vườn văn hoá dân tộc càng màu mỡ, phì nhiêu, có nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng thích hợp thì cây càng phát triển, nhiều hoa trái. Các hệ thống triết học bác học là sản phẩm trước hết của nền văn hoá dân tộc được tích tụ, chưng cất và thăng hoa qua tài năng nhận thức, suy tư và bản lĩnh của các triết gia. Không chỉ chất liệu của các hệ thống triết học bác học được tích tụ và trầm lắng, tinh luyện từ văn hoá mà cả năng lực nhận thức, suy tư và bản lĩnh cùng tất cả những phẩm chất khác của các triết gia sáng tạo nên các hệ thống triết học bác học cũng đều được nẩy mầm, nuôi dưỡng trong nền văn hoá dân tộc. Có thể nói không có một nền văn hoá dân tộc phát triển đến một mức độ nhất định thì không thể có các hệ thống triết học bác học.
Trong nền văn hoá dân tộc các triết lý là nguồn dinh dưỡng trực tiếp của các hệ thống triết học, bởi nó đã được chưng cất, gạn lọc, tồn tại dưới dạng những tri thức khái quát, những định hướng cho các hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người. Một nền văn hoá chưa phát triển đến mức có những triết lý thì chưa thể có được các hệ thống triết học bác học. Các yếu tố khác của nền văn hoá cũng có thể trực tiếp, có thể gián tiếp tác động vào sự hình thành và phát triển của tư duy triết học, của lịch sử hình thành, phát triển của tư tưởng triết học, của các hệ thống triết học bác học. Nhưng tác động thông qua các triết lý là tác động cơ bản và quan trọng nhất. Giống như văn hoá dân tộc là dòng sữa mẹ của các tác phẩm văn học bác học, văn hoá dân tộc cũng là nguồn sữa mẹ bất tận nuôi dưỡng các lý luận triết học, các hệ thống triết học bác học.
Trong thực tiễn không có sự tách rời giữa văn hoá dân tộc và toàn bộ các triết lý của dân tộc tồn tại trong nền văn hoá đó. Các hệ thống triết học bác học cũng vậy, nhưng khác với hệ thống các triết lý, các hệ thống triết học bác học thuộc một tầng bậc khác về mức độ khái quát, về lập luận lôgíc và về tính hệ thống. Các triết lý đơn lẻ thường không dựa trên lập luận lôgíc, mức độ khái quát thấp, do đó tính hệ thống không cao như trong các hệ thống triết học bác học. Các hệ thống triết học bác học là kết quả của sự tổng kết, khái quát kết quả phát triển của khoa học, của đời sống xã hội, của kinh nghiệm lịch sử và cá nhân, có nghĩa là: nó là sự khái quát, tổng kết các bước phát triển của văn hoá, do đó, tính khái quát của nó cao hơn các triết lý và văn hoá nói chung. Các triết lý thường phản ánh các kinh nghiệm, sự việc, hành động đơn lẻ, tản mạn, rời rạc, không thể hiện được những quy luật chung hoặc bản chất sâu xa của hiện tượng, quá trình. Bởi vậy, nó không thể mang tính hệ thống, tính lập luận. Nhưng nó lại là chất liệu quan trọng cho các hệ thống triết học bác học, là khâu trung gian không thể thiếu giữa các yếu tố, bộ phận, tầng bậc khác của văn hoá với các hệ thống triết học của dân tộc đó. Cả hai dạng đặc biệt này trong toàn bộ nền văn hoá dân tộc bổ sung lẫn nhau tạo thành thế giới quan, nhân sinh quan chung của dân tộc đó có tác dụng định hướng chung cho con người hành động, giao tiếp và hoạt động trong đời sống hàng ngày.
Với sự phát triển lịch sử của văn hoá và đời sống dân tộc nói chung, các triết lý cũng như triết học có sự biến đổi không ngừng. Có những triết lý sẽ mất tác dụng và bị quên lãng, có những triết lý mới nảy sinh phản ánh những hiện tượng, sự vật, quá trình mới cũng như có hệ thống triết học sẽ đi dần vào quên lãng. Những hệ thống triết học mới đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của đời sống xã hội và cá nhân sẽ ra đời và phát triển. Những người của thời đại nguyên thuỷ hoặc thời đại nô lệ có những triết lý mà ngày nay con người hiện đại không có. Ngược lại, những người hiện đại đang có những triết lý mà người cổ đại không thể có. Chắc chắn rằng người nguyên thuỷ sẽ không thể nói “Quý như vàng”, thứ triết lý mà người hiện đại vẫn thường hay dùng. Tình hình tương tự cũng có trong các hệ thống triết học bác học. Những hệ thống triết học mới của thời đại sau bao giờ cũng kế thừa các triết lý, tư tưởng, lập luận, thành tựu của các hệ thống triết học trước đó, cải biên chúng cho phù hợp với hệ thống triết học mới, thu nhận các triết lý mới và những yếu tố mới khác của nền văn hoá.
Triết học mới ra đời lại thúc đẩy văn hoá dân tộc phát triển lên một bậc mới, thúc đẩy sự vận động của văn hoá dân tộc, bổ sung, khắc phục những thiếu sót nhất định của văn hoá dân tộc. Triết học vừa thể hiện sự phản tư của văn hoá dân tộc, vừa là một mặt cơ bản, một khu vực trọng yếu của văn hoá dân tộc. Triết học chính là văn hoá dân tộc ở tầm lý luận cao nhất, là sự khái quát các thành tựu của văn hoá trong các lĩnh vực khác nhau từ khoa học đến thực tiễn, từ tri thức đến kinh nghiệm sống, từ quá khứ lịch sử đến hiện tại và tương lai. Chính vì vậy, triết học có tác dụng định hướng thế giới quan cho sự phát triển tiếp theo của văn hoá dân tộc, chỉ đạo hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người trong sáng tạo văn hoá mới, trong tiếp nhận và hưởng thụ các thành tựu văn hoá nói chung.
Triết học muốn ở đỉnh cao lý luận thì phải tổng kết và khái quát được sự phát triển của toàn bộ các lĩnh vực văn hoá. Điều đó đòi hỏi các nhà triết học phải có nhãn quan văn hoá rộng lớn, sự hiểu biết rộng và sâu sắc các lĩnh vực khác nhau của đời sống văn hoá dân tộc. Triết học càng đứng ở đỉnh cao lý luận, phạm vi và mức độ khái quát, tổng kết càng sâu sắc, nó càng ở tầm cao hơn so với các triết lý và do đó, nó càng có tác động định hướng lớn cho nhiều lĩnh vực khác nhau của văn hoá. Sự tác động định hướng này có thể thông qua con đường trực tiếp bằng cách tiếp nhận các tri thức lý luận triết học, có thể bằng con đường gián tiếp, thông qua việc tiếp nhận các triết lý nằm trong chính hệ thống triết học hoặc được triết học cải biến, chỉnh sửa, chính xác hoá trong quá trình phát sinh và tồn tại. Mỗi con người sống, hoạt động và giao tiếp luôn được chỉ đạo bởi một số các lý luận triết học và triết lý xác định.
Trong ý thức và cuộc sống của mỗi người, dù tự giác hoặc không tự giác thì họ vẫn bị các triết lý và triết học chi phối. Toàn bộ văn hoá, nhưng cốt lõi là các triết lý và triết học tạo thành khung mẫu (paradigm), hành lang, ống dẫn của các hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người. Trong quan hệ với văn hoá thì toàn bộ các triết lý và triết học lại tạo thành một hệ thống khung mẫu, hành lang, ống dẫn cho sự sáng tạo, tiếp nhận và hưởng thụ văn hoá của con người. Mặt khác, đời sống văn hoá trong quá trình phát triển lại góp phần làm bộc lộ những hạn chế, thiếu sót, sai lầm của các triết lý và hệ thống triết học, từ đó, hoàn thiện, sửa chữa hoặc loại bỏ chúng ra khỏi ý thức và cuộc sống của con người.
Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và phát triển các triết lý và hệ thống triết học khi tạo thành khung mẫu, hành lang, ống dẫn cho văn hoá thì chúng lại có thể trói buộc, kìm hãm sự phát triển của văn hoá, đặc biệt là kìm hãm tư duy và năng lực sáng tạo văn hoá của con người. Các triết lý, hệ thống triết học đã lạc hậu, lỗi thời, hoặc có sai lầm thường bắt đầu có tác dụng ngược bằng việc thể hiện những mâu thuẫn của chúng với các triết lý, hệ thống triết học và với văn hoá nói chung, thậm chí giữa chúng với văn hoá sẽ bắt đầu một thời kỳ xung đột. Trong quá trình xung đột văn hoá dần dần thể hiện nhu cầu đổi mới, thay thế các triết lý và triết học cũ bằng các triết lý và triết học mới. Đồng thời văn hoá sẽ tạo ra, bồi đắp và tích tụ dần các chất liệu cho sự ra đời các triết lý mới hoặc hệ thống triết học mới. Sự xung đột giữa triết học và văn hoá dần dần tạo nên những tiền đề văn hoá cho việc giải quyết cuộc xung đột ấy và sau đó là các phương tiện giúp cho việc giải quyết xung đột. Văn hoá sẽ tiến triển từng bước, giải quyết dần các vấn đề đơn lẻ, nhỏ bé đi dần đến những vấn đề lớn hơn, tạo ra những chất liệu văn hóa mới, đáp ứng những đòi hỏi mới của sự phát triển, bổ sung dần vào kho tàng văn hóa dân tộc những kiến thức mới, những triết lý mới, những giá trị văn hóa mới. Trên cơ sở tích tụ đó văn hóa đẩy triết học làm nên những đột phá mới, tạo ra các hệ thống triết học mới hơn, phù hợp hơn với sự phát triển. Văn hóa tham gia sàng lọc, gạt bỏ, bảo tồn, phát huy và chuyển tải các giá trị của triết học cũ vào triết học mới.
Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời cũng là nền tảng tinh thần của triết học. Văn hoá theo nghĩa rộng là nền tảng của sự sinh tồn của loài người, đồng thời cũng là nền tảng quyết định sự ra đời, tồn tại, phát triển và diệt vong của các hệ thống triết học. Văn hoá dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều là động lực của sự phát triển xã hội nói chung trong đó có sự phát triển của triết học. Một dân tộc không có một nền văn hoá phát triển thì chưa thể có các triết lý phong phú, đa dạng càng chưa thể có các hệ thống triết học. Một dân tộc có thể bị nô dịch hàng ngàn năm nhưng chưa đánh mất, chưa bị xoá bỏ nền văn hoá của mình thì dân tộc đó còn tồn tại. Nhưng khi bị đánh mất, bị xoá bỏ, bị đồng hoá về mặt văn hoá thì dân tộc đó không thể tồn tại với tư cách là một dân tộc độc lập. Các dân tộc có thể vay mượn các hệ thống triết học nhưng không thể vay mượn các triết lý và càng không thể vay mượn nền văn hoá nói chung. Đó chính là tính độc lập tương đối của triết học với văn hoá và vai trò của văn hoá đối với triết học.
Không hoàn toàn đồng nhất, nhưng cũng có thể hình dung rằng triết học là ánh hào quang rực rỡ của quả cầu lửa văn hóa. Quả cầu ấy càng lớn, càng sáng thì ánh hào quang càng rực rỡ, càng tỏa xa, màu sắc càng đẹp. Văn hóa, các triết lý và các hệ thống triết học là ba tầng bậc khác nhau của chính văn hóa theo nghĩa rộng, nhưng đó chính là ba trong một - một nền văn hóa theo nghĩa rộng./.
 
Nguồn: Bài do tác giả cung cấp
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến trường Đại học Công nghệ Đồng Nai qua kênh thông tin nào?

Qua công cụ tìm kiếm Google

Qua mạng xã hội Facebook

Qua báo chí, đài phát thanh và truyền hình

Được người thân giới thiệu

Đến trực tiếp tham quan

Các kênh thông tin khác

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 54


Hôm nayHôm nay : 180

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 2202

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1448208

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 54


Hôm nayHôm nay : 180

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 2202

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1448208

Thành viên